Thiêng liêng hai tiếng “đồng bào”

Trong thời khắc rất đỗi thiêng liêng của buổi sáng 2-9-1945 tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ lâm thời, đại diện cho toàn thể nhân dân Việt Nam đọc bản Tuyên ngôn độc lập trước quốc dân đồng bào và toàn thế giới, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam) – nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á.

Sau 70 năm giành độc lập, đất nước ngày càng phát triển, người dân ấm no... Ảnh: NGUYỄN HƯỞNG

Sau 70 năm giành độc lập, đất nước ngày càng phát triển, người dân ấm no… Ảnh: NGUYỄN HƯỞNG

Người đã hỏi hàng vạn nhân dân đang dự buổi lễ công bố Tuyên ngôn độc lập: “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?”. Dù không nằm trong nội dung bản tuyên ngôn nhưng câu hỏi rất đỗi mộc mạc, giản dị ấy vừa thể hiện sự gần gũi của vị Chủ tịch nước đối với nhân dân vừa thể hiện tính nhân văn cao cả của một nhà văn hóa kiệt xuất, một nhân cách lớn hết lòng vì nước, vì nhân dân.

Câu nói ấy cũng thể hiện tấm lòng trân trọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với toàn thể nhân dân bởi theo Người, trên đời này không có gì quý bằng nhân dân, không có gì to lớn, mạnh mẽ bằng nhân dân, không có gì thay thế được nhân dân. Chính vì vậy, suốt đời Bác luôn lấy mục tiêu phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân làm lẽ sống. Bác đã thể hiện rất rõ quan điểm tư tưởng và tấm gương đạo đức của mình về suốt đời gắn bó với nhân dân; không những tự mình giữ mực thước trong mối quan hệ với nhân dân mà còn nhắc nhở, dạy bảo, cổ xúy cho cả hệ thống chính trị và nhân dân chú trọng làm thật tốt mối quan hệ máu thịt này. “Nếu không có nhân dân thì Chính phủ không đủ lực lượng. Nếu không có Chính phủ thì nhân dân không ai dẫn đường. Vậy nên, Chính phủ với nhân dân phải đoàn kết thành một khối. Ngày nay, chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhưng nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc ấm no thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” – Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ.

Hai tiếng “đồng bào” Bác Hồ sử dụng ở thời khắc lịch sử thiêng liêng ấy còn có ý nghĩa chính trị lớn lao, khi trong Tuyên ngôn độc lập, Người lại tiếp tục dõng dạc tuyên bố: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và thực sự đã trở thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Truyền thống dân tộc Việt Nam qua 4.000 năm lịch sử đã khẳng định khí phách hiên ngang của con Lạc cháu Hồng, không một kẻ thù nào có thể khuất phục. Ý chí về “các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước” đã được Bác Hồ chú tâm căn dặn và điều này đã trở thành chân lý bất biến: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn song chân lý ấy không bao giờ thay đổi”. Đó còn là sự tiếp nối khẳng định truyền thống Việt Nam bằng câu ca dao: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương/Người trong một nước phải thương nhau cùng”.

Đồng bào – hai tiếng thiêng liêng ấy cũng đã được Bác Hồ và Đảng ta trân trọng đặt ra trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ trước đây để kêu gọi đồng bào hai miền Nam Bắc chung sức, chung lòng đánh thắng quân xâm lược. Tiếng gọi đồng bào thiết tha của Đảng và Bác Hồ đã được nhân dân hai miền hết lòng đáp ứng, không tiếc máu xương, của cải để chi viện sức người, sức của giúp đỡ nhau làm nên những chiến thắng vang dội năm châu, chấn động địa cầu, như chiến thắng Điện Biên Phủ (7-5-1954) tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Bắc; chiến thắng của cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (4-1975), giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước cùng tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Chặng đường 70 năm xây dựng, chiến đấu, chiến thắng, phát triển và trưởng thành của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã và đang khẳng định tầm vóc của mình trước thế giới. Chúng ta đang và sẽ tiếp tục hiên ngang, hãnh diện sánh vai cùng các nước trên khắp châu lục, hội nhập ngày càng sâu vào quá trình tham gia xây dựng một thế giới đương đại vì hòa bình, hạnh phúc, tiến bộ và no ấm của toàn nhân loại.

Sự nghiệp đổi mới đất nước đã trải qua 30 năm đối mặt với những khó khăn, thách thức nhưng cũng có nhiều vận hội mới, thời cơ mới mà chúng ta đã tỉnh táo, tranh thủ nắm bắt, vận dụng mềm dẻo, sáng tạo vào điều kiện thực tế cụ thể của nước nhà. Theo đó, chúng ta đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý giá của quá trình hội nhập, làm cho đất nước phát triển không ngừng. Tuy nhiên, nhiều yếu tố bất ổn vẫn tiềm ẩn khó lường, cần hết sức cảnh giác. Điều đó không là trách nhiệm của riêng ai bởi mỗi người Việt Nam hôm nay dù làm gì, ở đâu, khi nghĩ về đất nước mình, trước hết hãy nhớ rằng chúng ta là đồng bào!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.